- Tòa án quyết định sồ tiền nuôi con như thế nào?
- Hướng dẫn Tiền Nuôi Con được áp dụng như thế nào?
- “Custodial parent” nghĩa là gì?
- Sẽ là thế nào nếu bên cha hoặc mẹ kia nói rằng ông ấy hoặc bà ấy không thể trả tiền nuôi con bởi vì họ đã có những đữa con khác mà họ phải chu cấp?
- Điều gì sẽ xảy ra nếu người phải trả tiên nuôi con không đi làm?
Tòa án quyết định sồ tiền nuôi con như thế nào?
Tòa án dựa vào Hướng dẫn Tiền Nuôi con để quyết định số tiền nuôi con. Nhứng hướng dẫn này áp dụng một công thức để tính toàn số tiền nuôi con. Công thức này xem xét đến khoản “gộp” (tổng số thu nhập trước khi thuế bị khấu trừ) thu nhập hàng tuần của người sẽ phải trả tiền nuôi con cũng như số con cái, tuổi của con cái, và chi phí của bảo hiểm y tế. Người trả tiền nuôi con được gọi là người có nghĩa vụ (obligator). Bản Tính toán theo Hướng dẫn Tiền nuôi con được dùng để tìm ra số tiền nuôi con.
Số tiền nuôi con mà một người có nghĩa
vụ phải trả được tính theo một
số phần trăm cụ thể của thu nhập hàng
tuần của người có nghĩa vụ. Con số phần
trăm này nằm trong Hướng dẫn Tiền
nuôi con
Bảng Liệt kê Hướng dẫn Nghĩa
vụ
Sau khi xem xét đến các hoàn cảnh đặc
biệt, một tòa án có thể tăng hoặc
giảm số tiền nuôi con nhiều đến 2%.
Tòa án cũng có thể xem xét đến thu nhập của bên cha hoặc mẹ mà đứa con sông chung vơi nếu thu nhập của bên cha hoặc mẹ đó nhiêu hơn $20.000. Bản Tính toàn trình bày việc tính toán này như thế nào.
Tất cả án lệnh tiền nuôi con của tòa án phải đòi buộc rằng tiiền nuôi con sẽ được người chủ khấu trừ trực tiếp từ lương của người có nghĩa vụ và thông qua Sở thuế gửi đến bên cha hoặc mẹ được quyền nhận, người được gọi là người được giao ước (obligee).
Án lệnh đòi buộc người chủ lấy tiền nuôi con từ tiền lương được gọi là một chỉ định thu nhập hay một chỉ định tiền công.
Nếu bạn hưởng tiền trợ cấp xã hội thì số tiền nuôi con mà Sở thuế thu được sẽ được chuyển cho tiểu bang ngoại trừ số tiền $50 mỗi tháng sẽ được gửi đến cho bạn.
Hướng dẫn Tiền nuôi con được áp dụng như thế nào?
Theo Hướng dẫn này, quan tòa phải tính toán án lệnh nuôi con sau khi đã xem xét mức thu nhập của mỗi bên cha mẹ, số con cái sẽ được chu cấp bởi án lệnh tiền nuôi con, tuổi của con cái, và chi phí mà cha hoặc mẹ phải trả cho việc cung cấp bảo hiểm y tế cho con cái.
Thế nào là Một án lệnh Cơ bản?
Trước hết, quan tòa cần tính toán “Án lệnh cơ bản”. Án lệnh Cơ bản đó được tính toán dựa trên thu nhập của bên cha hoăc mẹ không có quyền trông coi và số con cái sẽ được chu cấp. Quan tòa có quyền điều chỉnh Án lệnh Cơ bản lên hoặc xuống 2%.
Bảng dưới đây liệt kê số tiền trong một Án lệnh Cơ bản cho một vài mức thu nhập của bên cha hoặc mẹ không có quyền trông coi
|
Số con |
||
Một |
Hai |
Ba |
|
$100 mỗi tuần |
$20 |
$20 |
$20 |
$150 mỗi tuần |
$32 |
$36 |
$41 |
$200 mỗi tuần |
$42 |
$48 |
$54 |
$250 mỗi tuần |
$53 |
$60 |
$68 |
$300 mỗi tuần |
$64 |
$73 |
$82 |
$350 mỗi tuần |
$75 |
$87 |
$98 |
$400 mỗi tuần |
$86 |
$101 |
$113 |
$450 mỗi tuần |
$98 |
$115 |
$129 |
$500 mỗi tuần |
$110 |
$129 |
$144 |
$550 mỗi tuần |
$121 |
$143 |
$160 |
$600 mỗi tuần |
$133 |
$157 |
$175 |
Hướng dẫn Tiền nuôi con nói gì về số tiền đòi buộc cho con cái khác biệt về tuôi tác?
Trong Hướng dẫn có đề cập đến việc tăng số tiền trong Án lệnh Cơ bản nhằm phản ánh chi phí trong việc nuôi dạy những trẻ lớn. Bảng dưới đây giải thích một Án lệnh Cơ bản nên tăng ra sao tùy thuộc tuổi của đứa con lớn nhất trong só những đứa con đang được xem xét chu cấp.
Tuổi của đứa con lớn nhất |
Mức tăng theo phần trăm |
0-12 |
Áp dụng Án lệnh cơ bản |
13-18 |
Án lệnh Cơ bản + thêm 10% |
Trên 18 |
Theo Tòa án (và nếu luật cho phép) |
Hướng dẫn Tiền nuôi con nói gì về những trường hợp có trên 3 đứa con bao gồm trong án lệnh tiền nuôi con?
Khi có trên 3 đứa con bao gồm trong án lệnh tiền nuôi con, Hướng dẫn không yêu cầu một số tiền cụ thể, nhưng có đề cập rằng án lệnh không nên ít hơn so với số tiền khi có 3 đứa con. Nếu quan tòa không yêu cầu nhiều hơn số tiền khi có 3 đứa con, quan tòa phải đưa ra lý do bằng văn bản cho quyết định đó.
Bỏ qua thu nhập của bên cha hoặc mẹ có quyền nuôi con là thế nào?
Hướng dẫn Tiền nuôi con nhận định rằng bên cha mẹ có quyền trông coi thường phải đi làm nhằm duy trì nhà ở và những chuẩn mực sống cơ bản thích đáng cho con cái, Nhằm khuyến khích việc đi làm này, Hướng dẫn Tiền nuôi con không tính đến phần thu nhập của bên cha hoặc mẹ có quyền trông coi, cho đến $20.000 một năm (khoản “ bỏ qua”). Cũng như vậy, họ không bao gồm những chí phí cho việc gửi con khi điều chỉnh giảm xuống so với Án lệnh Cơ bản nếu bên cha hoặc mẹ có quyền trông coi đang đi làm. Bất cú khoản thu nhập nào trên mức $20.000 một năm cộng với chi phí gửi con được dùng để giảm trừ vào phần đóng góp của bên cha hoặc me kia.
"Cha mẹ có quyền trông coi" nghĩa là gì?
Trong Hướng dẫn Tiền nuôi con, "cha mẹ có quyền trông coi" nghĩa là bên cha hoặc mẹ mà đứa con sông cùng trong phần lớn thời gian, Hướng dẫn Tiền nuôi con không áp dụng cho trường hợp hai bên cha mẹ cùng chia sẻ quyền nuôi con , nghĩa là thời gian đứa con sống với mỗi bên cha mẹ là như nhau.
Sẽ là thế nào nếu bên cha hoặc mẹ kia nói rằng ông ấy hoặc bà ấy không thể trả tiền nuôi con bởi vì họ đã có những đứa con khác mà họ phải chu cấp?
Nếu bên cha hoặc mẹ kia đã trả tiền nuôi con cho những đứa con khác không phải là con của bạn, đó không phải là lý do hợp lệ cho việc không chu cấp cho con của bạn. Tuy nhiên, nếu đã có một án lệnh trước đòi buộc bên cha hoăc mẹ kia trả tiền nuôi con, và trên thực tế họ đang nhận được tiền nuôi con từ bên cha hoặc mẹ kia, tòa án sẽ trừ số tiền đó từ thu nhập gộp của bên cha mẹ kia trước khi áp dụng công thức tính tiền nuôi con. Khoản giảm trừ này được bao gồm trong Bản tính toán Hướng dẫn Tiền nuôi con.
Chuyện gì sẽ xảy ra nếu người có nghĩa vụ không đi làm?
Nếu tòa án quyết định rằng một người hoặc chủ tâm không đi làm hoặc khiếm dụng, quan tòa có thể đòi buộc người đó trả tiền nuôi con dựa trên tiềm năng thu nhập của ngứoi đó thay vì dựa trên thu nhập thực tế.
Hướng dẫn Tiền nuôi đưa ra rằng tòa án có thể xem xét tiềm năng thu nhập nếu tòa án quyết định rằng thu nhập của một trong hai bên cha hoặc mẹ thấp hơn nhiều so với thu nhập mà người đó có thể nhận được vói một nỗ lực hợp lý. Khi xác định tiềm năng thu nhập của một người, tòa án xem xét đến trình độ học vấn, huấn luyện và quá trình làm việc. Tòa án xem xét tiềm năng thu nhập khi cho rằng bên cha mẹ có khả năng đi làm mà lại thất nghiệp, làm việc bàn công hoặc làm công việc công nhật, buôn bán hoặc công việc khác với nghề nghiệp mà ngưới đó đã được huấn luyện.
Mặc dù những nguyên tắc này áp dụng cho cả hai bên cha mẹ có con cái sống chung hoặc không, những nguyên tắc này không áp dụng cho cha mẹ có quyền trông coi mà có con cái dưới 6 tuổi sống chung trong nhà họ.
Tiền trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp mất khả năng lao động, và bồi thường tại nạn lao động đều được tính trong thu nhập.
Ấn hành bởi
Massachusetts Law Reform Institute